Hieu Giang Cong Ty TNHH SX DVTM Hieu Giang  
   
   
   
           
 
Trang chủ
Giới thiệu
Sản phẩm
Phân NPK
Phân hữu cơ sinh học
Đất sạch
Phân vi lượng
Phân bón lá
Thuốc bảo vệ thực vật
Nhà phân phối
Kỹ thuật nông nghiệp
Cây lương thực
Cây công nghiệp
Cây ăn quả
Cây Rau Củ Quả
Hoa cây kiểng
Văn hóa - Xã hội
Chuyện bốn phương
Hỏi đáp
Bảng giá
Tin tức - Sự kiện
Thiên nhiên & Đời sống
Thư giãn - Giải trí
Liên hệ
Bản đồ
 
Thông tin

Cập nhật thời tiết Thời tiết
Giá vàng   Vàng 9999 (tr.đ/lượng)
Tỷ giá   Tỷ giá
 
Lượt truy cập: 5605623
Xem trang Hiếu Giang tại
Hiếu Giang trên Facebook   Hiếu Giang trên Google +
 
 
Thư giãn - giải trí

Một số loài hoa dại ở Việt Nam (3) (07-08-2012)

Không rực rỡ kiêu kỳ, không được con người nâng niu chăm sóc nhưng các loài hoa dại cuốn hút con người bởi vẻ đẹp giản dị.
 
Hoa sim


Hoa sim

Sim hay hồng sim (Rhodomyrtus tomentosa) là một loài thực vật có hoa thuộc họ Myrtaceae, có nguồn gốc bản địa ở khu vực Nam và Đông Nam Á. Loài này thường mọc ở ven biển, trong rừng tự nhiên, ven sông suối, trong các rừng ngập nước, rừng ẩm ướt, và tại độ cao đến 2400 m so với mực nước biển.

Người ta hay nhầm lẫn cây sim với một loài cây dại khác là cây mua. Để phân biệt được hai loài cây này, hãy nhìn kỹ vào lá, lá cây mua không có nhiều gân mà có gân lớn dọc theo lá.

 
Hoa mua

Hoa thường nở rộ vào mùa hè với màu tím. Hoa sim là biểu tượng mà nhiều đôi trai gái miền quê dùng để bày tỏ tình cảm và cũng là biểu tượng của sự chung thủy.

Hoa sim cánh mỏng màu hồng tím nhạt, nhìn tựa hoa mai nụ hoa giống hoa đào bông nhỏ... lá trơn có quả ăn được.

Toàn bộ cây sim đều dùng làm thuốc: rễ chữa bệnh đau tim, lá chỉ đau, tán nhiệt độc, cầm huyết, sinh da non; quả ăn được; nụ chữa tiêu chảy…

Cây sim là loại cây nhỏ chỉ cao 1-2m, mọc hoang rất nhiều ở vùng rừng núi, nhất là những nơi đồi trọc miền trung du. Cây thường xanh, lá đối nhau, hình bầu dục dài 3-6cm, hoa 5 cánh sắc đỏ, quả hình tròn lúc chín màu tím sẫm có vị ngọt và thơm. Toàn bộ cây sim đều được dùng làm thuốc: rễ chữa bệnh đau tim, lá chỉ đau, tán nhiệt độc, cầm huyết, rút mủ, sinh da non; quả ăn được, làm rượu bổ; nụ chữa tiêu chảy.

Làm thuốc bổ: Quả sim dùng để ăn; hoặc để chế rượu như rượu nho, có màu rất đẹp, dùng để uống. Một số nơi còn dùng quả sim chín đồ lên như đồ xôi, rồi phơi khô để dành dùng dần.

Phụ nữ sau khi sinh thiếu máu, hoặc người bệnh ốm lâu ngày bị suy nhược cơ thể, thì dùng khoảng 40g sắc uống. Một phương thuốc khác thì đem sắc chung quả sim khô với đậu đen, sâm đại hành, lá dâu non (3 thứ đã sao kỹ) làm thuốc bổ uống bồi dưỡng cơ thể.

Chữa tiêu chảy: Ở miền núi và trung du nước ta, nhân dân vẫn thường dùng búp và lá sim non mỗi ngày 20-30 búp dưới dạng thuốc sắc chữa tiêu chảy, hoặc đi lỵ. Một số nơi còn dùng búp sim phối hợp với búp ổi (hoặc vỏ ổi giộp), riềng, chữa tiêu chảy rất có hiệu quả.

Ngoài ra, người ta còn lấy quả và lá sim tươi giã nát đắp vào nơi bị đau. Hoặc dùng lá sim sắc lấy nước dùng rửa vết thương, vết loét ở ngoài da cho mau lành.

Ké hoa đào

 
Ké hoa đào

Tên gọi khác: Ké hoa đỏ. Tên quốc tế: Urena lobata L. Thuộc họ: Bông (Malvaceae).

Cây nhỏ cao chừng 1m hay hơn. Cành có lông hình sao. Lá mọc so le, chia thuỳ nông, mặt trên xanh, mặt dưới xám, có lông, mép khía răng, gân chính có một tuyến ở gốc. Hoa màu hồng như hoa đào, mọc riêng lẻ hay thành đôi nách lá. Quả hình cầu dẹt, có lông, chia 5 mảnh, phía trên có nhiều gai móc. Hạt có vân dọc.

Tác dụng: Ké hoa đào có vị ngọt dịu, tính mát, không độc, có tác dụng tiêu viêm trừ thấp, lợi tiểu.

Công dụng: Rễ dùng chữa 1. Thấp khớp, đau khớp; 2. Cảm cúm, viêm amygdal; 3. Viêm ruột, lỵ, tiêu hoá kém; 4 Bạch đới; 5. Sốt rét; 6. Bướu giáp. Liều dùng 15-30g, dạng thuốc sắc dùng ngoài, lấy toàn cây trị chấn thương bầm giập, gãy, vết thương, viêm vú, rắn cắn. Dùng cành lá giã đắp.

Ở Ấn độ, người ta dùng rễ làm thuốc đắp ngoài trị tê thấp. Người ta thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác. Để chữa lỵ, thêm lá cây Ba chẽ. Để chữa rong huyết, thêm Mần tưới, Chỉ thiên, Mã đề. Để chữa bạch đới, khí hư, thêm Chua ngút, Bòng bong lá to.

Dân gian còn dùng rễ Ké hoa đào sắc uống chữa hen.

Hoa Bụp xước (xương chua)

 
Bụp xước (Xương chua)

Xương chua, Bụp xước - Hibiscus surattensis L., thuộc họ Bông (Malvaceae).

Cây thảo mọc đứng rồi trườn, có gai cong, dễ móc. Lá có phiến chia 5-7 thùy sâu, gốc lá hình tim; cuống dài, lá kèm hình tai. Hoa vàng tươi, tâm đỏ đậm; lá đài phụ đặc sắc, đầu xoan thon và có một phần phụ hình kim đứng cao. Quả nang tròn hay xoan, cao 1-1,5cm, có lông dày. Ra hoa quanh năm.

Nơi sống và thu hái: Loài của Á châu và Phi châu nhiệt đới, thường mọc ở chỗ trảng nắng, từ thấp đến độ cao 1200m, khắp nước ta.

Công dụng, chỉ định và phối hợp: Ðọt non chua, thường cho vào cari.

Ở đảo Réunion, người ta dùng hoa làm thuốc dịu đau và trị bệnh thuộc về ngực. Thân và lá được dùng nấu nước xúc rửa các loại viêm tấy của cơ quan sinh dục, kể cả đau về hoa liễu và viêm niệu đạo.

Hoa Bụp dấm

 
Bụp giấm

Bụp giấm hay Bụt giấm (Danh pháp khoa học: Hibiscus subdariffla L.). là loài thuộc họ Bông (Malvaceae) có nguồn gốc ở Tây Phi. Cây sống khoảng một năm, cao từ 1,5 - 2m, phân nhánh gần gốc, màu sắc tím nhạt. Lá hình trứng, nguyên, mép lá có răng. Hoa đơn độc, mọc ở nách, gần như không có cuống. Tràng hoa màu vàng hồng hay tía, có khi trắng. Quả nang hình trứng, có lông thô mang đài mầu đỏ sáng tồn tại bao quanh quả. Cây ra hoa từ tháng 7 đến tháng 10.

Cây được sử dụng phần đài quả và lá làm rau chua. Cây có đặc tính không kén đất, ưa đất đồi núi, khí hậu nóng ẩm. Đài hoa Bụp giấm có tác dụng chống co thắt cơ trơn, làm thư giãn cơ trơn tử cung, làm hạ huyết áp và có tính kháng sinh, trị ho, viêm họng. Dầu ép từ hạt bụp giấm và chất không xà phòng hoá có tác dụng kháng sinh trên một số chủng vi khuẩn như Escherichia coli, Salmonella typhi, Bacillus subtilis, Coryne bacterium pyogenes,Staphylococcus aureus... và có tác dụng kháng nấm trên một vài loài nấm: aspergillus, trychophyton, cryptococcus...

Cúc liên chi dại

 
Cúc liên chi dại

Tên khoa học: Parthenium hysterophorus L., thuộc họ Cúc (Asteraceae).

Cây thảo phân nhánh cao 0,25 đến 1m; thân có rãnh gần như nhẵn. Lá xẻ hai lần lông chim, dài tới 11cm và rộng tới 6cm, các lá trên nguyên, mặt trên có lông bột, mặt dưới có lông xám. Đầu hoa có 5 góc, đường kính 4-8mm, xếp thành chuỳ thưa ở ngọn cây; lưỡi hoa màu trắng, hình thận, nhỏ; hoa nhỏ màu trắng. Quả bế hình trứng ngược rộng, dài cỡ 2mm, có lông ở đỉnh.

Cây có hoa quả kéo dài từ tháng 10 đến tháng 6 năm sau.

Ở nước ta, cây ít được dùng, nhưng ở một số nước Trung Mỹ như Jamaica, Đôminica, người ta sử dụng lá, đem giã ra và trộn với dầu thầu dầu để xát kích thích sự giảm bớt sản dịch. Thân mang lá hãm hoặc sắc uống để trị chứng tim đập nhanh. Còn được dùng chữa các vết loét, một số bệnh ngoài da, như bệnh ecpet (mụn rộp loang vòng). Các chiết xuất parthenin được dùng với liều nhỏ tăng dần từ 100mg đến 2g để giúp sự tiêu hoá; còn parthenicin, với liều 1g ngày, dùng để làm thuốc hạ nhiệt, giảm đau; với liều cao nó gây độc.

Rau mác

 
Rau mác

Rau mác, hay còn gọi là Rau mác thon. Tên tiếng Anh: Arrowleaf False Pickerelweed, Arrow Leaf Pondweed, arrow-leaf monochoria, hastate-leaf pondweed. Monochoria.

Trong số 5 loài rau Mác thuộc họ Pontederiaceae (Lục bình), chuyên sống ở ruộng nước, ao hay mương lạch nước sâu thì cây rau Mác thon (Monochoria hastata) có dạng lá và hoa đẹp nhất. Rau mác thon, miền Bắc gọi là Dong nước, Rau mát, là nê thực vật (cây có rễ, củ ngầm dưới nước, sình lầy), thân đứng ngắn, lá có cuống cao giúp vươn lên khỏi mặt nước. Phiến lá hình tam giác hình mũi tên. Phát hoa thành chùm ngắn, gần như nằm trên cuống lá. Hoa màu xanh lam rất đẹp.

Lá non, cộng, hoa và củ đều làm rau ăn được. Nấu canh, lẩu ăn rất ngon, lại có tác dụng bổ dưỡng, mát và lợi sữa. Toàn dây 50 - 100g sắc uống trị lỵ, viêm ruột, viêm họng, viêm lợi, viêm amiđan, mụn nhọt, rôm sẩy, trúng nắng.

Rau từ cô

 
Rau từ cô

Cây này không thuộc họ Lục bình mà thuộc họ Từ cô (Alismataceae), nhưng ở miền Bắc cũng gọi là Rau mác, Rau chóc, Hèo nèo, tên khoa học là Sagittaria sagittaefolia (hay S. sagittafolia, S. montevidensis). Là nê thực vật, thân củ to, có ngó nẩy chồi dưới bùn. Lá hình đầu tên cộng dài. Phát hoa tụ tán, có 3 cánh hoa trắng. Lá non, hoa và củ nấu canh ăn được, có tác dụng lợi tiểu, giải nhiệt, trị sạn bàng quang. Nhưng có thai tránh dùng vì gây sanh sớm. Rễ, củ sắc uống có tác dụng trục nhau thai ra mau và cầm máu sau sanh.

Một cây cùng chi, tên là Thuỷ từ cô, miền Bắc cũng gọi là Rau mác, tên khoa học (Sagittaria montevidensis) cùng công dụng như trên.

Thủy từ cô

Thủy từ cô
 
Thủy từ cô

Một cây cùng chi Từ cô, miền Bắc cũng gọi là Rau mác, tên khoa học là Sagittaria montevidensis.

Cây có cùng công dụng như cây rau từ cô ở trên.

 Hiếu Giang Better sưu tầm

Sử dụng đất sạch dinh dưỡng Better và các loại phân bón NPK, Hữu cở sinh học, phân dơi, phân bò đã qua xữ lý hiệu Better của Hiếu Giang có bán trên thị trường để chăm bón cho cây ( lưu ý: Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trên bao bì )


Gửi ý kiến
Họ & tên
Email
Địa chỉ
Nội dung
Ma xac nhan    Click để đổi mã
Mã xác nhận  (Nhập các ký tự hiển thị ở hình trên)